Bác tôi

Năm bác tôi mười hai tuổi, nhà tôi có người bị chôn sống.

Đó là ông Hai Vin. Ông thất bại trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Lính Pháp vẫn dã man như trong mọi cuộc đàn áp.

Khi đó dù danh tiếng còn lưu lại của cụ tôi đã đậu Hoàng Giáp Tiến Sĩ 1886 thời Tự Đức cũng không cứu được con trai mình. Cụ tôi từ quan ở ẩn mất trước đó đã lâu, cả cụ ông cụ bà đều quy về cửa Phật. Với một gia đình được “đóng dấu” là có dòng máu nổi loạn như nhà tôi thì chùa chiền có khi là chốn tựa lành nhất, cuối đời.

Ông bà nội tôi sống đời thanh bạch. Ông làm quan ở Thái Bình, nên bố tôi không phải quê Thái Bình vẫn thành bạn nối khố từ thuở ba bốn với tướng Trần Độ.

Dòng họ tôi có một lời nguyền kéo dài năm đời, chỉ giáng vào những người tài giỏi khí phách nhất họ. Đã ba thế kỷ nay, mỗi đời đều có một người đang ở đỉnh cao quyền lực và tài năng, sẽ bỗng nhiên từ quan ở ẩn, ngao du sơn thuỷ, du lịch đó đây chẳng màng lợi danh.

Bà cụ nội tôi phiền muộn, còn quá trẻ đã xuống tóc vào chùa xin bình an cho cả họ. Vẫn không ngăn được đời thứ hai, là ông nội tôi, ngao du khắp lục tỉnh, khắp Nam Kỳ, sang tận Miên, Lào.

Một ngày, cụ bà thấy một phó mộc lăm lăm tay đục tay cưa vấn khăn đầu rìu vào chùa mình. Thì ra thằng cháu đích tôn của cụ, tức là bác tôi.

Dở khăn ra, người ngời ngời, cao 1m75, nặng 70 kg, cười răng trắng. Cụ than, con ơi, cho con ăn học lên sinh viên Luật, giờ sao ra nông nỗi này.

Bác tôi nói, con dẫn đầu đoàn Thanh niên sinh viên Hà Nội tham gia mít tinh ở Đấu Xảo hôm 1/5 (1938), lại vừa được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đoàn Thanh Niên Dân Chủ. Nên giặc Pháp đuổi con khỏi trường Luật. Con đang trên đường công tác.

Đấy là lần cuối cùng bác tôi gặp cụ. Chùa ở Kiến An sau thành cơ sở cách mạng. Cụ lại mất sau cháu, không rõ những năm cuối đời của cụ trong chùa có an bình nổi không.

Rời trường Luật, bác tôi về mở Hiệu sách Đồng Xuân ở 26 phố Đồng Xuân, thành nơi đầu tiên phát hành sách báo của Đảng Cộng Sản VN. Bác lấy bút danh Hán Mai cùng các ông Trần Huy Liệu, Đào Duy Kỳ… viết những bài chính luận đăng trên các báo Mặt trận dân chủ thời kỳ đó để đề cao quan điểm của Đảng cộng sản.

Khi Liên Xô ký hiệp ước hoà hoãn với Hít-le, bác tôi trở thành nạn nhân đầu tiên trong đợt khủng bố vu cáo “Cộng sản bắt tay với Phát-xít”. Trong tù Hoả Lò gần một năm, bác viết một bức thư tạm biệt bà nội tôi.

Bà tôi không biết cậu con trai đầu lòng đã thắt ống dẫn tinh, triệt sản từ năm 19 tuổi với lý do, tuy kết hôn với một con gái địa chủ để lấy vỏ bọc hoạt động cách mạng, nhưng không muốn con cái vướng bận vào con đường hoạt động cách mạng sau này.

Chỉ có bố tôi biết anh mình đã triệt sản. Hồi còn nhỏ, anh em thân nhau như bạn bè.

Một lý do nữa, bác tôi muốn lặng lẽ khẳng định tình yêu duy nhất với cô Ái Mai, hoa khôi Hội Thương năm ấy ở Bắc Giang (em ruột nữ thi sĩ Anh Thơ).

Tôi vẫn chưa hình dung nổi lý tưởng cách mạng nào có thể lớn tới mức khiến một người hy sinh cả cuộc sống và tình yêu, cả của mình, cả của cuộc đời những người quanh mình.

Vương Kiều Ái Mai đau đớn, cuối cùng quyết định đi làm vợ một người đàn ông năm mươi, goá vợ, năm con, nghèo. Cách lãng quên tình yêu này thật đáng sợ và quá xót xa. Cho đến tận bây giờ đã là thế kỷ 21, mỗi năm ngày 29 Tết, bà vẫn châm nén hương lên bàn thờ để thắp vọng mối tình đầu.

Nhờ luật sư Trần Văn Chương (bố Trần Lệ Xuân-đệ nhất phu nhân sau này) giúp đỡ, bác tôi trắng án, ra tù. Gia đình tôi vẫn luôn nhắc tới ơn bào chữa miễn phí của luật sư Trần Văn Chương.

Bởi trong hoàn cảnh đó, bà nội tôi đi khắp các nhà quen, ai cũng sợ sệt liên luỵ cộng sản. Bố tôi và các chú bị đuổi khỏi nhà trọ, không ai dám chứa. Ai cũng sợ dây vào! Hồi đó Trần Văn Chương là luật sư nổi tiếng và uy tín nhất Hà Nội.

1941, sau Hội nghị các tỉnh Đông Bắc, bác tôi bị bắt lần nữa, khi đó bác đã là Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ. Sau những cực hình tra tấn, dụ dỗ mua chuộc, bác tôi quyết định tuyệt thực, im lặng giữ những bí mật công tác về người đồng đội “bác D” cùng Xứ uỷ, người mà 50 năm sau khi bác tôi mất, đã quay lại thăm mộ người đồng đội mãi mãi dừng lại ở những năm 1941. Khi đó “bác D” đã trở thành Phó Tổng Tham Mưu Trưởng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bà nội tôi kể, địch cho bà nội vào làm “tâm lý chiến”, bà tôi thấy bác da bọc xương, đầy thương tích, ruồi nhặng đua nhau rúc vào các vết thương, mắt mũi tai hút máu mủ, rách nát trong manh quần đùi, bụng lép vào xương, bà nội tôi khóc oà lên.

Bà nội tôi hỏi, sao con lại nói ngọng?

Vì hai hôm trước con đã cắn lưỡi lấy máu vết các khẩu hiệu lên tường nhà tù “Đảng cộng sản Đông Dương muôn năm”.

Bà nội tôi kêu lên, con ơi con.

Bác tôi nói, mẹ cứ tin là rồi đây, cờ đỏ sẽ mọc lên khắp cả nước.

Sau 47 ngày tuyệt thực, bác tôi kiệt sức chết.

Bà nội tôi chạy đến trước cổng trụ sở mật thám Pháp ở Hải Dương, đấm tay vào cửa rầm rầm, trả xác con tôi cho tôi, người đã chết rồi, chúng mày giữ làm gì.

Nước mắt bà nội tôi ướt đẫm vạt áo mới để mặc vào thăm tù.

Về sau này, nhạc sĩ Đỗ Nhuận có cho biết, khi nghe tin Hồng Quang chết, nhạc sĩ đang bị giam ở nhà tù Sơn La, cảm xúc hào hùng xót thương trước sự hy sinh này đã trở thành một trong những cảm xúc để sau này ông viết nên bản nhạc “Chiêu hồn Tử Sĩ”.

Bao năm nay mỗi lần nghe thấy giai điệu “Chiêu hồn tử sĩ”, cho dù ở bất cứ đâu, tôi chỉ thấy nhớ bác tôi. Một người cao lớn và tài hoa, chết năm 23 tuổi.

Thật tiếc, sau này những đồng chí một thời của bác tôi đã từng họp lại phê phán, cho rằng bác tôi chết là vì… cắn lưỡi chứ không phải vì tuyệt thực, mà cắn lưỡi để chết cho nhanh, tức là trốn đòn roi nhục hình, là hèn nhát, tức là không chịu giữ gìn thân thể để sống tiếp mà phục vụ cách mạng. Họ gạch tên bác tôi ra khỏi một đường phố ở Hà Nội (giờ đã đổi tên phố Hồng Quang thành tên phố Hoè Nhai). Rất tiếc trong Hồi ký của Đỗ Nhuận cũng đã ghi lại theo “dư luận” đó, chứ không theo sự thật.

Bố tôi kể, năm 1941 một chiếc xe ngựa chở quan tài, có vỏn vẹn một vòng hoa trắng sơ sài đi từ nhà tù Hải Dương ra, theo sau là một bà già và hai cô con gái. Con ngựa cúi đầu kéo cỗ xe đi qua nhiều phố ở thị xã Hải Dương, dân chúng sợ không dám ra xem. Họ chỉ dám đứng dòm ra từ sau mành cửa đám tang của một nhân vật Xứ uỷ Bắc Kỳ.

Lá thư tạm biệt mẹ của bác tôi, rất lâu sau này, bà nội tôi mới nhận được.

Không hiểu vì sao người vợ hôn thú của bác tôi chưa một lần nào hiện diện trong đời sống gia tộc tôi. Bà vợ con nhà địa chủ, dù cũng yêu nước nhưng cho đến lúc chết cũng chưa bao giờ xuất hiện trong gia đình tôi. Chúng tôi chỉ nhắc đến mối tình đầu của bác tôi, ruột thịt yêu thương bà già chưa bao giờ ruột thịt nhưng còn hơn cả ruột thịt Vương Kiều Ái Mai. Có lẽ mối tình đầu sâu đậm không chỉ vì tình yêu, còn vì nghĩa nặng ơn sâu những lúc khó khăn tù đày, bà nhờ chồng kiếm luật sư giúp người yêu cũ, những khi oan ức những ngày vẻ vang.

Tôi không biết bà Ái Mai đã bao giờ đặt chân đến Đài tưởng niệm bác tôi chưa, đã đến xã Hồng Quang chưa, đã đi trên đại lộ Hồng Quang chưa, đã bước chân vào trường Trung học mang tên Hồng Quang chưa. Tôi chỉ biết đã có những nén hương những hôm 29 Tết.

Chỉ còn lại những nén hương ấy, cùng những dòng thơ của bạn tù Hải Dương viếng sự hy sinh của bác khi ấy, là còn chung thuỷ với linh hồn bác tôi:

“Chết đi nhắc nhủ bao lòng

Đem son sắt ấy nhuộm hồng giang san”

(Trích “Đàn ông không đọc Trang Hạ” – tản văn Trang Hạ, NXB Văn Học 2012)

P/S: Hiện nay bác Hồng Quang đã được đặt tên cho 1 đường phố tại quận Hoàng Mai – Hà Nội, 1 xã ở Ứng Hòa- Hà Tây, 1 đại lộ ở Hải Dương, 1 trường THPT ở Hải Dương, 1 xã ở huyện Thanh Miện – Hải Dương, 1 trường THCS ở Hải Dương và dựng Đài tưởng niệm liệt sĩ Hồng Quang cùng tượng tưởng niệm ở nhiều nơi.

Trang Ha 06-2013 ảnh Na Sơn

9 Comments

  1. bài viết này của chị làm em thực sự xúc động. Đôi khi, xem những thước phim về những ngày xưa cũ ấy, em cũng băn khoăn tự hỏi bản thân: lý tưởng lớn lao đến mức nào mà người ta có thể mang tất cả cuộc sống, hạnh phúc, niềm tin ra để mà theo đuổi như vậy. Mà đường đi thì đâu có sáng sủa, họ phải tự mò trong bóng tối, còn ánh sáng cuối con đường thì vẫn còn rất xa xôi😦

  2. Có nợ với quê hương nên hy sinh đời trai trẻ. Say mê với chủ thuyết đại đồng quốc thổ diệt vong. Buồn thya VN mãi mãi là con nợ của phương Bắc.

  3. Cô Trang Hạ ơi, tên bác Hồng Quang còn được đặt cho 1 xã ở huyện Ân Thi, Hưng Yên, 1 trường Tiểu học và 1 trường THCS trong xã ấy cô ạ. Cháu là người xã ấy và lần lượt học cả hai ngôi trường ấy🙂 Thật xúc động và ngưỡng mộ tinh thần bác Hồng Quang quá cô ạ!

  4. Bài viết của chị khiến những con đường, ngôi trường mang tên Hồng Quang càng đẹp lung linh và đầy ý nghĩa. Cảm phục tinh thần và lý tưởng sống của Bác Hồng Quang.

  5. Chị rất cảm động khi đọc bài báo này. Chị là học sinh trường cấp 3 Hồng Quang (Hải Dương), Ông nội chị (đã mất) ngày xưa có kể đã có lần mang cơm vào cho ông Hồng Quang khi ông Hồng Quang ở trong bệnh viện mà ông chị là nhân viên ở đó. Chị đang tìm điện thoại của em để nói chuyện, Có gì gọi cho chị: Thùy Dương (nhà văn) 0903 4391 00 nhé.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s