quyền đổi tên

30 01 2010

Sóng gió đến với những nhà chức trách tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc khi họ tuyên bố cách đây hai tuần rằng, sẽ đổi tên ngọn núi tại thắng cảnh nổi tiếng – khu bảo tồn Trương Gia Giới của tỉnh mình thành núi Hallelujah trong phim Avatar. Mục đích của việc đổi tên này, như lãnh đạo chính quyền nói, để thắng cảnh cực kỳ nổi tiếng của Trung Quốc này được gắn thêm một giá trị ngoại lai, trở nên “quốc tế hóa”,  thu hút thêm khách du lịch quốc tế tới đây. Mục tiêu cuối cùng là khu du lịch này sẽ mang lại cho địa phương chắc chắn nhiều TIỀN hơn.

trái-núi trong phim Avatar, phải-một góc Trương Gia Giới

Những trí thức Trung Quốc trên mạng và trên báo chí đều chỉ trích quyết định này của chính quyền, cho rằng việc đổi tên núi chỉ chứng tỏ Hồ Nam thiếu tự tin vào giá trị vốn có của Trương Gia Giới, sự lệch lạc trong quan điểm quản lý của chính quyền đối với tài nguyên này, chính quyền coi nặng đồng tiền, đổi tên lấy tiền, dẫn tới những hành vi thiếu thuyết phục dân chúng.

Thật tình cờ, vào đúng thời điểm này, Hà Nội tuyên bố xóa sổ “Trường THPT Hà Nội – Amsterdam” (trường Ams) – một thương hiệu giáo dục trung học phổ thông gần như uy tín nhất của chính mình. Trường THPT Nguyễn Trãi tiếp quản cơ sở phòng ốc của trường Hà Nội – Amsterdam, còn thầy trò “trường Ams” trở thành thầy trò trường chuyên Hà Nội. Lãnh đạo Hà Nội trên bản tin ngày hôm qua trên báo chí cũng giải thích theo chiều hướng đây là đổi tên lấy tiền, cụ thể, đánh đổi thương hiệu “Hà Nội – Amsterdam” lấy 400 tỉ phòng ốc mới xây. Việc đổi tên cũng được hiểu là động thái loại trừ “yếu tố ngoại lai” để trường trở nên “thuần Hà Nội”, chào mừng Đại lễ nghìn năm Thăng Long.

Tên trường “Hà Nội – Amsterdam” đến là do trường được xây bằng tiền của nhân dân thủ đô Amsterdam – Hà Lan năm xưa. Nay trường được xây bằng tiền của Hà Nội, mang tên Hà Nội là quá chí lý. Nhưng việc phủi bỏ quá khứ, xóa sổ tên “Hà Nội – Amsterdam” không còn đơn thuần là đổi tên trường theo tên tiền (xây trường) nữa, mà nó gần như một hành vi hẹp hòi, chạy theo phong trào gắn hai chữ Đại lễ nghìn năm Thăng Long lên mọi lý do, đánh đổi tên gọi tức vô hiệu hóa bao nhiêu nỗ lực của thầy trò phấn đấu để xây dựng nên thương hiệu trường THPT tự hào của Hà Nội, bất chấp nguyện vọng của những người đang sở hữu thương hiệu này. Chưa kể việc xóa bỏ “yếu tố ngoại lai” trong tên trường không mang lại điều tốt lành nào khi các nhà giáo một mực đòi trò uống nước nhớ nguồn. Giờ hãy uống nước theo số tiền có trong túi và biết ơn bia Hà Nội (bợm nhậu) hoặc Vinacafe (tôi), dù xưa kia ta bú nguồn sữa mẹ.

Một đứa trẻ ra đời không được quyền chọn tên cho mình, nhưng một người đã trưởng thành có quyền quyết định khi đổi tên. Quyền đổi tên thuộc về người mang tên, chứ không thuộc về bố mẹ họ. Nếu coi tên trường là một thương hiệu, hiện thương hiệu này đã bị chủ sở hữu tự nguyện từ bỏ, thì theo đúng luật Sở hữu trí tuệ, một trường tư thục mới thành lập hoàn toàn có thể đăng ký thương hiệu “Hà Nội – Amsterdam” để thụ hưởng tất cả những giá trị của thương hiệu này đang được đánh giá vô cùng ưu tú trong mặt bằng giáo dục quốc tế.

Liên tưởng tới đổi tên, tôi nhớ khi tôi vào đại học, tôi thi đỗ vào học Đại học Sư phạm Ngoại Ngữ nhưng nửa năm sau, tôi bỗng dưng trở thành sinh viên Đại học Đại Cương. Năm thứ ba tôi lại “bị” trở thành sinh viên Đại học Ngoại Ngữ và tốt nghiệp cầm trong tay tấm bằng do… Đại học Quốc gia cấp. Bốn năm đại học, một người được lần lượt thành sinh viên của… ba trường đại học là điều quái gở chưa từng có tại quốc gia nào, (trừ phi quốc gia đó bị đảo chính, trường bị phá sản sang nhượng hoặc một hệ thống giáo dục đào tạo tuỳ tiện thiếu hệ thống, đổi tên chỉ để đổi tên).

Nếu lịch sử là một nỗi nhục, xứng đáng cho ta bắn súng lục vào (kiểu như tên chó nhất định phải là tên thằng tổng thống Mỹ cho ném bom Hà Nội, làng Cơ Xá quận Ba Đình đặt tên bởi người xưa chết đói khát) thì đổi tên với một tiền đồ sáng lạn phù hợp cả lý lẫn tình. Còn đổi tên chỉ bởi những lý do nhất thời, đánh đổi 25 năm vì một năm Đại lễ, có quá nhiều sự thất vọng và thiệt hại nhiều mặt của chính thầy trò đã từng gắn bó với thương hiệu “trường Ams”, thì chính quyền dường như đã đổi tên chỉ vì đổi tên.

Nhưng nhìn lại lịch sử, đặt tên theo tiền, chạy theo giá trị vật chất và nhãn tiền không xa lạ tại Việt Nam. Trước đây viện trợ của Liên Xô nhiều, Công viên Thống Nhất trở thành Công viên Lê-nin. Hết thời, Công viên Lê-nin ”được” loại trừ yếu tố ngoại lai để quay lại là Công viên Thống Nhất, Cung văn hóa Việt – Xô cũng đổi tên, từ lâu lắm rồi, giờ chuẩn bị xây lên một cung Văn hóa Hữu nghị Việt-Trung bằng tiền của Trung Quốc. Này bác Tàu, nếu sau này chúng tôi đổi tên Cung văn hóa, các bác cũng biết lý do rồi đấy.

Không biết dịp này, nhân dân Amsterdam có ý định quyên góp tiền để bảo vệ thương hiệu món quà có giá trị văn hóa, giáo dục, ngoại giao và lịch sử mà họ đã tặng cho Hà Nội chăng?





Tiết hạnh khả phong

21 01 2010

Mỗi dịp cuối năm, mẹ tôi lại vác ghế đi họp. Bà thay mặt Hội phụ nữ họp với chính quyền, Mặt trận tổ quốc, Tổ dân phố v.v… bầu cho bằng được số gia đình văn hóa. Ngõ có năm chục nóc nhà, cứ tỉ lệ mỗi năm bầu được năm sáu gia đình văn hóa, không ít hơn cũng không nhiều hơn.

Gia đình nào đủ tiêu chuẩn, được tặng một bằng khen. Thực chất với những cư dân phố chợ nghèo đủ các thành phần dân ngụ cư, người thuê nhà, làng lên phố như ở đây, bởi đều bận lo kiếm tiền, tấm bằng “Gia đình văn hóa” thực chất với họ chỉ là một tờ giấy.

Cứ nhìn bà hàng phở đầu ngõ mà xem, được bằng “Gia đình văn hóa” bởi con cái phương trưởng, gia đình đầm ấm, năm nào đóng góp bão lụt cũng nhất ngõ, nhưng sáng nào chẳng lấn chiếm quá nửa con ngõ để bày bàn ghế khách ăn. Trưa dọn rồi để lại đống rác ướt lướt thướt để chị hàng nước kiêm bánh rán tiếp quản, chị hàng nước quanh năm không cãi nhau với ai, ngồi rất khép nép, chuyên hót rác hộ hàng phở cho lối đi gọn sạch. Thực ra cũng vì khách uống trà hút thuốc tính tình “sạch sẽ” hơn hàng phở thả giấy ăn tùm lum. Nhưng chị lại chẳng được bằng khen gia đình văn hóa bao giờ, bởi ngày trẻ đã lỡ bỏ chồng, nuôi con một mình. Gái chê chồng thì văn hóa cái nỗi gì, ai cũng dè bỉu.

Nhà tôi tất nhiên các cụ chả to tiếng với nhau bao giờ, ông bận đi làm bà hăng say công tác phụ nữ, phong trào nào của địa phương cũng đi đầu không phải vì ông bà muốn cuối năm có được cái bằng khen “Gia đình văn hóa”. Thế nhưng một ngày đi làm về, mới đến cửa tôi đã nghe ông quát bà rất to, tôi vội vã quẳng xe chạy vào hỏi, bố mẹ có chuyện gì vậy.

Chỉ thấy bà đang lăn ra cười, còn ông đứng giữa nhà quát ông ổng, rồi ông cũng cười khì khì, giải thích:

- Nhận bằng “Gia đình văn hóa” mấy năm mà không một lần đánh chửi nhau, không va chạm trong gia đình, hàng xóm người ta tưởng mình giả tạo, đóng kịch quá khéo. Vì thế bố cũng phải giả vờ to tỉếng một lần, để hàng xóm thấy gia đình mình hóa ra cũng là một gia đình… bình thường chứ!

Tôi bảo, thế thì bầu “Gia đình văn hóa” cuối năm nay, nhà ta trượt rồi!

Bà bảo: Không, có nhà cái Tèo năm ngoái được bằng khen, năm nay vợ lừa chồng bạc tỷ, đuổi chồng khỏi nhà rồi rước thằng bồ trẻ hơn hai chục tuổi vào nhà rồi, khu dân cư chỗ mình vẫn thiếu định mức văn hóa.

Tôi ngạc nhiên hỏi, người vậy mà cũng được cấp bằng sao?

Mẹ tôi giải thích: Trừ đi mấy nhà nghiện hút, nhiễm HIV, mấy nhà không có hộ khẩu ở đây, mấy nhà buôn bán hoặc chồng nọ vợ kia, chửa hoang, chồng đánh hay là đánh chồng, nghèo quá họ không thèm đếm xỉa tới danh hiệu này, còn lại mấy gia đình hưu trí “sạch nước cản” đành luân phiên nhau nhận danh hiệu này.

Thảo nào, dù người vẫn cầm dao rượt nhau dọc ngõ, dù hàng quán chiếm ngang ngõ, trẻ con bị đánh, người già bị nhốt, năm nào ngõ tôi cũng phải có đủ định mức số gia đình văn hóa. Từ đó, những tấm bảng “Khu phố văn hóa”, những bằng khen “Gia đình văn hóa” dường như đã mất thiêng. Hoặc tôi dửng dưng đi ngang nó như đi ngang một tấm biển quảng cáo KHCBT (khoan cắt bê tông).

Văn hóa thực chất là các giá trị vô hình không đong đếm được. Nó là cách ứng xử nhân văn ấm áp và phù hợp pháp luật, nó là các giá trị tinh thần được tôn vinh, là lời khen cao nhất mà cộng đồng đánh giá một gia đình, một cá nhân. Khi đưa ra các tiêu chuẩn văn hóa để khuyến khích các gia đình và các khu dân cư đạt tới, chắc biện pháp này để nâng cao trình độ văn hóa của cộng đồng. Thế nhưng nếu thực hiện không tốt, những danh hiệu ấy sẽ biến thành trò cười.

Một người bạn tôi tâm sự, khi được nhận tấm bằng khen ”Gia đình văn hóa”, gia đình cô rất lúng túng. Vứt ngay đi thì có vẻ không được… văn hóa lắm, mà đóng khung treo lên thì đi ra đi vào nhìn thấy nó như thể nhìn thấy một bức “Tiết hạnh khả phong” treo trong nhà. Được khen ngợi mà lại đâm ra xấu hổ, gia đình thật sự có văn hóa thì đã không chường cái “tiết hạnh” của mình ra khoe kiểu này. Cuối cùng cô đút ngăn tủ để vài năm sau cũng vẫn sẽ vứt ra sọt rác, một cách đỡ áy náy hơn. Đã từng thẳng thắn từ chối danh hiêu này nhưng không được, gia đình bạn tôi thắc mắc rằng, ai đã nghĩ ra hình thức “xếp loại đạo đức tập thể” này, sau khi nghĩ ra cách “nâng cao dân trí tập thể” bằng những cái loa phát thanh phường đang ngày ngày gây ô nhiễm không gian Hà Nội?

Gần đây, dường như để rõ ràng mạch lạc hơn tiêu chí hai chữ “văn hóa” trong cộng đồng, các “Khu dân cư văn hóa” đã được thêm một cái đuôi vào để bà con hình dung rõ hơn, như “Khu dân cư văn hóa biển”, “Khu dân cư văn hóa – an toàn giao thông”… Một thời thói sính danh hiệu như thập kỷ sáu mươi, tám mươi của thế kỷ trước dường như đang trở lại, với những “liều thuốc tinh thần” kê quá tay cho một xã hội vốn đã nặng về quán tính và mơ hồ với những định nghĩa.





Sống chênh vênh trên miệng vực

20 01 2010

Sáng thứ Bảy phát hiện ra đã để quên cuốn tiểu thuyết đang đọc dở tại văn phòng, tôi không biết làm thế nào, không lẽ kêu giám đốc hoặc nhân viên tới mở cửa văn phòng cho tôi lấy cuốn sách bỏ quên về đọc nốt, chỉ vì nó hấp dẫn quá mức? Thôi nín lại chờ thứ Hai, trong bụng tôi tiếc rẻ. Bởi đã khoảng gần mười năm, tôi đã đọc khoảng trăm tiểu thuyết các thể loại, mới thấy một cuốn sách thực sự hấp dẫn và lôi cuốn, khiến mình chưa đọc xong thì thấy bồn chồn.

Sáng thứ hai, cô nhân viên kế toán của công ty lên phòng tôi đề nghị: “Chị đọc xong, cho em mượn cuốn sách này!” Thì ra chiều thứ sáu khi tôi đi khỏi, cô đã đọc ké cuốn sách bỏ quên của tôi, hết hai chương đầu tiểu thuyết “Phiên Bản” của Nguyễn Đình Tú.

Cô kế toán không thể đọc nhiều bằng tôi, tôi không thể đọc nhiều bằng cô biên tập viên văn học. Nhưng rốt cuộc, cả ba chúng tôi sau khi bàn luận đều nhất trí bầu “Phiên Bản” là cuốn sách cực kỳ hay, đáng để đọc và bàn luận. Cuộc hội ý chớp nhoáng giữa một người viết sách, một người xuất bản sách và một người không quan tâm đến sách kết thúc ở đấy, như thể một cuộc họp PR cho sách và nhà văn.

Cuốn sách đấy chỉ viết về cái ác, về những phiên bản của Năm Cam, Dung Hà, xã hội đen Hải Phòng, xã hội đen Sài thành. Thế nhưng nó gần đến mức ta thấy cái ác ở ngay bên, ta sẽ phải lựa chọn để sống. Cái ác ngẫu nhiên như số phận, đến từ một chuyến tàu vượt biên, lũ cướp biển, tên gác chợ vô học, gã tình nhân bạc bẽo, cuộc cưỡng bức có xếp đặt… nhưng cũng có những cái ác do chính nhân vật lựa chọn cho mình, khi những cuộc thanh toán, tranh lãnh địa, báo thù, cướp ngục diễn ra như cơm bữa trong đời kẻ giang hồ.

Những giây phút bản năng của người phụ nữ sáng lên, với những khao khát yêu thương, bảo bọc đồng loại, tình người chưa bị mất… là những điềm thiện nhất trong đời của “Hương ga”. Nhưng sự bất an và chênh vênh giữa cuộc sống đã đẩy nhân vật chính kéo theo số phận những nhân vật phụ như võ sư Tân, sát thủ Mỹ “chột” lặn dần xuống đáy vực không lối thoát. Cuộc sống đi chênh vênh trên miệng vực là điều mà Nguyễn Đình Tú đã thành công nhất khi miêu tả cái ác qua một tiểu thuyết mà nhân vật chính cho tới lúc chết vẫn vật vã với những món nợ đời giang hồ.

Nếu tôi là người xử lý bản thảo, chắc chắn tôi sẽ đề nghị đổi tên sách thành: “Cái chết của một người đàn bà” hoặc “Chênh vênh trên miệng vực”, hay câu khách hơn là “Nữ hoàng dao búa”, “Chết trước khi được sống”. Vì thực sự nhân vật chính đã chết nhiều lần và sống nhiều cuộc đời cho đến khi được một phát súng của giang hồ Thành phố bắn thẳng vào giữa trán.

Thế nhưng nói cho cùng, dù chết thế nào thì cũng đâu quan trọng bằng việc đã sống thế nào. Cuốn sách kể rất tỉ mỉ một đời sống, ác, gần, lạnh lùng và khác biệt. Người đọc như tôi chắc đều nhận ra.

“Phiên bản” là tiểu thuyết thứ tư của nhà văn quân đội Nguyễn Đình Tú.

ảnh: JS – Đài Loan





Dịch giả Việt Nam và sự “kỳ thị thế hệ”

20 01 2010

phỏng vấn trên báo Văn nghệ Trẻ số 1/2010

1. Dịch tác phẩm đòi hỏi nhiều yếu tố: am hiểu văn hoá, ngôn ngữ… và cũng cần nhiều thời gian… Đó thực sự là thử thách với những người trẻ tuổi. Vậy tại sao chị vẫn quyết định “dấn thân” vào lĩnh vực này?

Trước tiên, dịch thuật là công việc của những người kiếm sống bằng ngoại ngữ như tôi. Dịch tác phẩm thơ ca và văn học cũng chỉ là một trong số những hành động kiếm sống của một phiên dịch. Dịch hay thì độc giả nhớ tên, nhà văn cảm ơn. Tôi rất may mắn là thường được các tác giả cảm ơn.

2. Khi bắt tay vào công việc dịch thuật, thì  dịch giả đã mang trách nhiệm làm cầu nối, xóa bỏ những rào cản về ngôn ngữ giữa nguyên tác và bản dịch. Vấn đề được đặt ra  là trong khi dịch thuật  để vượt qua những bất đồng ngôn ngữ, văn hoá…  dịch giả nên đứng về tác giả (trung thành với nguyên tác, dù độc giả có thể gặp khó khăn khi tiếp nhận) hay đứng về độc giả (Việt hóa hoàn toàn)? Theo chị  dịch giả được tự do đến đâu trong khi chuyển dịch tác phẩm sang một ngôn ngữ khác?

Với văn chương thì dịch giả là một người đỡ đầu, cho tác phẩm tới công chúng được tròn vẹn suôn sẻ. Nhưng với thi ca, dịch giả thành người mang thai hộ, thơ hay mới là mẹ giỏi đẻ, thế mà đẻ xong, thơ lại thành con của người khác. Như thế, người dịch chắc chắn là người tiếp nối quá trình sáng tác của tác giả, người dịch khó mà nói rằng không tác động tới hình hài của nguyên tác sau khi chuyển ngữ. Tôi thấy nên lựa chọn cách dịch hài hoà giữa tinh thần và không khí của nguyên tác với nhu cầu tiếp nhận của độc giả. Nếu không làm được hai việc đó cùng lúc, sao gọi là dịch giả tốt?

3. Từ vấn đề về mối liên hệ giữa dịch giả và tác giả, một số ý kiến cho rằng, trong dịch văn học, tốt nhất là chuyển thể trực tiếp từ bản gốc, không nên bắc cầu qua hai, ba bản dịch với các ngôn ngữ khác nhau, do đó nguyên tác phải được hiểu một cách linh hoạt.  Đứng ở góc độ một  của người dịch trẻ ý kiến của chị về vấn đề này thế nào?

Tôi thấy thật lố bịch khi bắt dịch giả của ta phải học tiếng Ả rập, latin, các tử ngữ khác… thậm chí cả các ngôn ngữ không có chữ viết, nếu họ muốn giới thiệu một đoạn văn, thơ của các ngôn ngữ đó tới bạn đọc Việt Nam. Hẳn là các tuyển tập văn học châu Phi, các nước Nam Mỹ v.v… phải rất khó khăn mới hoàn thành khâu bản thảo bởi các dịch giả còn bận đi học ngoại ngữ. Mà nếu thế, thì sao không bắt các biên tập viên của các NXB cũng phải nắm chắc những ngoại ngữ đó nếu muốn làm tốt việc biên tập tác phẩm dịch? Nói một cách khác, vô số bản dịch tồi đã được dịch từ nguyên tác đó thôi?

4. Phong trào dịch thuật hiện nay có sự lộn xộn, chạy theo các tác phẩm best-seller. Do phải đua tranh về mặt thời gian nên nhiều nguyên tác bị xé lẻ cho nhiều người dịch, dịch ẩu, dịch lấy lợi nhuận trước mắt. Dịch giả Trịnh Lữ chia sẻ: “Muốn dịch tốt, người dịch không chỉ cần giỏi ngoại ngữ mà còn phải đặc biệt am hiểu tiếng mẹ đẻ, phải có vốn văn hóa sâu rộng, niềm đam mê và thái độ làm việc cẩn trọng, nghiêm túc”. Chị nghĩ sao về ý kiến này?

Tôi lại thấy tổ chức nhóm dịch là một việc làm cực kỳ thông minh, khắc phục được rất nhiều điểm yếu của các dịch giả độc lập, như chây ì thời gian, chậm tiến độ bản thảo, dịch sai sót có hệ thống, dịch bỏ sót nhảy cóc, đào tạo các dịch giả trẻ trở thành chuyên nghiệp trong thời gian ngắn nhất… Tuy nhiên, chỉ vì ở Việt Nam tôi chưa thấy xuất hiện nhóm dịch nào phối hợp ăn ý, trao đổi kỹ lưỡng về các bản thảo và các phân đoạn, xử lý biên tập tốt tác phẩm trước khi “xuất xưởng” bản thảo, nên bị nhiều người lên án hình thức ấy.

Riêng cá nhân tôi, tôi luôn ấp ủ dự định xây dựng một nhóm dịch chung, lấy chung một tên, gồm những người cùng quan điểm nghệ thuật, phối hợp ăn ý, thảo luận về bản thảo mỗi 48 tiếng, với các công đoạn xử lý bản thảo chuyên nghiệp, bồi dưỡng liên tục những người dịch trẻ tuổi. Đó mới xứng đáng được gọi là một thái độ cẩn trọng, nghiêm túc khi dịch thuật. Còn ngồi dịch một mình, thậm chí khư khư giữ riêng một tác giả nước ngoài cho mình, ai chả làm được!

5. Ở một chừng mực nào đó, tôi nhận thấy rằng lớp dịch giả “già” hình như đang “nhường sân” cho các dịch giả trẻ. Họ cũng thừa nhận rằng các dịch giả trẻ hiện nay có lợi thế về ngoại ngữ, và phần lớn đều du học tại một nước nhất định nên tiếp cận rất nhanh với các văn bản văn học nước ngoài. Song họ cũng lo ngại rằng đôi khi, vì mục đích lợi nhuận, dịch ẩu hoặc vì kinh nghiệm còn quá non nên các dịch giả trẻ, các nhà xuất bản  bỏ rơi nhiều tác phẩm văn học kinh điển mà chạy theo những sách bán chạy trên thế giới, dịch hỏng hoặc dịch chưa tới. Trong khi, việc hiệu đính lại không được làm chuẩn bởi các nhà văn?  Theo chị điều lo ngại này có đúng không?

Nhiều người từ trẻ đã giỏi, nhiều người đến già vẫn dốt.

Nói thêm một câu nữa thôi, trách nhiệm của nhà xuất bản khi chọn mua tác phẩm, rồi cả trách nhiệm của biên tập viên nữa, tại sao họ làm việc không ra gì thì đổ vạ lên đầu dịch giả? Nếu họ làm tốt, thì thử hỏi làm gì có cái nhận định như của bạn, mà gọi nôm na là “kỳ thị thế hệ” ấy?

6. Theo chị có cần thiết phải thành lập có một Hiệp hội dịch thuật để nâng cao tính chuyên nghiệp của công tác dịch thuật hiện nay?

Tôi cho là nên, nếu ta đang ở nước ngoài với thị trường văn hoá khắc nghiệt nhưng sòng phẳng. Còn ở Việt Nam, xin đừng, vui gì tròng thêm lên cổ một ách?

7. Dịch giả Ngân Xuyên có đề xuất một giải thưởng cho những dịch giả văn học Việt Nam ra nước ngoài . Ý kiến của chị về vấn đề này?

Tôi rất muốn để bạn đọc trong nước và các nhà văn nước ngoài bầu chọn giúp ta người đoạt giải hàng năm. Đó là những trọng tài thông thái và trình độ cao đối với dịch giả. Xin chớ làm ngược lại, để bạn đọc nước ngoài và… nhà văn trong nước bầu chọn giải thưởng đó.

8. Theo chị, tại sao văn học Việt nam đến giờ vẫn chưa vươn ra nhiều quốc gia trên thế giới?

Lỗi ở nhà văn thiếu ngoại ngữ, không biết tự lăng xê mình ra ngoài thiên hạ. Lỗi ở thiên hạ, đã quen tiếp nhận văn chương không bị định hướng và kiểm duyệt.

9. Một câu hỏi cho dịch giả Nguyễn Lệ Chi và Trang Hạ: hiện chúng ta đang dịch quá nhiều văn học Trung Quốc, trong khi văn học Việt Nam ở Trung Quốc lại chưa được biết đến nhiều?

Tôi đang viết tiểu thuyết tiếng Hoa đầu tay “Chuyện kể dưới ngọn đèn đường” gồm 11 chương và 55 đoạn. Phần tiếng Việt đã hoàn thành và được NXB Phụ Nữ cấp giấy phép xuất bản cuối 2009. Phần tiếng Hoa dự định sẽ có nhiều thay đổi về nội dung so với bản tiếng Việt và hoàn thành trước Tết Nguyên Đán 2010, xuất bản tại Đài Loan vào 2010, nhưng đã có lời mời từ phía Đài Loan để dựng thành phim truyền hình dài tập tại Đài Loan, bởi đề tài cô dâu Việt Nam đang vô cùng thu hút sự quan tâm của khán giả, độc giả. Đồng thời tôi đang cùng nhà thơ Trần Lê (Đài Loan) hoàn thành bản thảo tập thơ gồm 40 bài thơ của nhà thơ Việt Nam Hữu Thỉnh, dự định sẽ được xuất bản song ngữ Hoa – Việt vào giữa năm 2010.

Tôi nghĩ, văn học chỉ có chỗ đứng khi nó nói đến cái mà người ta quan tâm. Cái người Việt quan tâm chắc gì là cái mà thế giới tìm kiếm. Văn bán ế sao lại trách người mua? Ngay khi bản thân nhà văn chưa nỗ lực, chưa đặt tâm thế ra thế giới, không đếm xỉa xem độc giả nước ngoài cần gì, thì một vài giải văn học trong nước nếu có đoạt được cũng không đủ để tác phẩm của họ được nước ngoài để mắt tới.

10. Là dịch giả trẻ, chị đón nhận sự kiện Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam  lần thứ 2 thế nào?

Tôi hoang mang, sao lại mời tôi? Làm tôi tưởng mình ghê gớm lắm. Trong khi các dịch giả uy tín người Đài Loan, có người đã có hai cuốn sách tiếng Việt, nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Việt chừng mười lăm năm nay, đã giảng dạy lâu năm về lịch sử văn học Việt, có các luận văn nghiên cứu về văn học Việt Nam, đang dịch sách văn học Việt sang tiếng Hoa… đã bị Ban tổ chức gạch tên ngay ngày đầu tiên.

11. Với tư cách một dịch giả chị có mong muốn gì ở Hội nghị lần này?

Tôi muốn nhận được thật nhiều danh thiếp.

Để sau khi Hội nghị kết thúc, tôi vẫn kết nối được với những người tâm huyết với dịch thuật văn học Việt Nam.

11/2009 khách sạn Daewoo Hội thảo Biển Đông (GS Tống Yến Huy, bác Hoàng Việt, Trang Hạ)





Phỏng vấn trên Vnexpress

16 01 2010

Với “Xin lỗi, em chỉ là…” ba năm trước tôi là dịch giả, ba năm sau tôi là tác giả kịch bản sân khấu.

‘Xin lỗi em chỉ là con đĩ’ chỉ nổi tiếng ở VN

Thứ sáu, 15/1/2010, 07:06

Lý giải về sức hút của cuốn sách “hoàn toàn chìm lấp” ở Trung Quốc nhưng lại rất được yêu thích ở VN, dịch giả Trang Hạ cho biết: “Các xung đột giữa tình dục và tình yêu, tiền và đàn ông, quyền lực và sắc đẹp, tình mẫu tử và bi kịch đàn bà đẹp… thực ra không xa lạ với xã hội VN”.

Tiểu thuyết Xin lỗi em chỉ là con đĩ của nhà văn Trung Quốc Tào Đình vừa được công ty V.Art mua bản quyền chuyển thể thành kịch. VnExpress.net có cuộc trao đổi với dịch giả, nhà văn Trang Hạ – người chuyển ngữ và góp phần khiến tác phẩm này trở nên nổi tiếng ở VN.

- “Xin lỗi em chỉ là con đĩ” khi được dịch ra tiếng Việt đã chinh phục đông đảo độc giả VN. Nay, nó tiếp tục được chuyển thể thành kịch với một dự án sân khấu có kinh phí đầu tư lớn. Là dịch giả cuốn sách, theo chị, điều gì làm nên thành công của tác phẩm này?

- Đây là một cốt truyện khá ly kỳ và hấp dẫn, tới mức từng đánh lạc hướng nhiều độc giả khó tính, khiến họ bỏ qua vô số khiếm khuyết về mặt logic và tâm lý. Các bi kịch được đẩy tới cao trào trong Xin lỗi, em chỉ là con đĩ cùng ấn tượng tốt của người đọc VN với bản dịch 3 năm qua cũng góp phần khiến nhà đầu tư tự tin để mạnh tay chi cho vở diễn. Các xung đột giữa tình dục và tình yêu, tiền và đàn ông, quyền lực và sắc đẹp, tình mẫu tử và bi kịch đàn bà đẹp, cộng với các chi tiết sống động về những gã đàn ông bao gái thực ra không xa lạ với xã hội VN, một xã hội vẫn còn đang coi đàn ông là chúa tể.

Tôi cũng tin vở kịch sẽ thu hút người xem, y như từng thu hút 25 triệu lượt người đọc nó trên blog của tôi.

Dịch giả, nhà văn Trang Hạ. Ảnh nhân vật cung cấp.

- Điều gì khiến chị và tác giả quyết định trao tác quyền chuyển thể tác phẩm cho Công ty V.Art?

- Trong 3 năm qua, có 9 đoàn kịch và đạo diễn, nhóm viết kịch nhờ tôi liên hệ để mua bản quyền chuyển thể kịch từ Tào Đình. Thậm chí có đạo diễn từ Mỹ cũng về VN đòi mua. Tôi và Tào Đình cùng có quan điểm nhất quán về tác phẩm này: Chỉ bán bản quyền cho đơn vị có khả năng làm một tác phẩm tốt nhất. Nhưng không rõ vì sao mà hầu như mọi giao dịch đều không thành công. Có nơi như nhóm kịch ở Nhà hát Tuổi Trẻ, tôi mời chào họ dựng kịch, và sẵn sàng biếu không bản quyền thì họ không thèm dựng. Sau đó khi tác phẩm nổi tiếng thì họ quay lại cạnh tranh với 5 đơn vị khác, nhưng chỉ trả giá bản quyền bằng khoảng 1 phần 10 nhóm khác. Có đoàn kịch lại tiền trảm hậu tấu, cứ dựng kịch trước rồi mua bản quyền, quảng cáo búa xua trên báo chí, tôi và Tào Đình đành viết chung một đơn kiện đòi chấm dứt việc vi phạm này.

Cũng có công ty rất sốt sắng nhưng tìm hiểu ra, họ chỉ là môi giới. Họ viết kịch bản xong mang đi bán cho các đơn vị khác làm. Càng về sau này, chúng tôi càng cảnh giác với những người đòi mua bản quyền chuyển thể, và nhận ra tính chất “chộp giật” của thị trường kịch bản. Điều này làm cho các công ty như V. Art khó khăn hơn khi muốn chứng minh họ làm nghệ thuật một cách nghiêm túc.

Ngoài ra, tôi là người duy tâm. Tôi quan sát thấy dường như chỉ những người có duyên với tác phẩm này mới có thể thành công trong công việc. Có lẽ gặp gỡ đạo diễn Hoàng Vũ và tham gia cùng V. Art cũng là một cái duyên của tôi chăng.

- Ở ngoài VN, tác giả Tào Đình đã bán bản quyền tác phẩm cho những đối tác nào (nếu có)?

- Tôi là người đầu tiên và cũng là người duy nhất đặt vấn đề chuyển nhượng bản quyền quốc tế của tiểu thuyết Xin lỗi, em chỉ là con đĩ. Cho đến nay, tác phẩm này cũng mới bán cho VN và chỉ nổi tiếng tại VN. Còn tại Trung Quốc, nó hoàn toàn chìm lấp. Cũng có thể là bởi, ở VN, khi xuất bản, tôi kiên quyết giữ lại được tên gốc Xin lỗi, em chỉ là con đĩ. Còn tại Trung Quốc, nhà xuất bản phải đổi tên khác là Em nấu tình yêu thành món canh. Nếu không thu hút được sự chú ý của công chúng thì tác phẩm hay ho cỡ mấy cũng lép vế trên thị trường. Thậm chí, theo thông báo của bên xuất bản tại Trung Quốc cho Tào Đình, thì số lượng phát hành của Em nấu tình yêu thành món canh khiêm tốn tới mức cả họ và Tào Đình đều… không tưởng tượng nổi. Họ bèn đổi tên khác là Ai là nỗi đau của ai nhưng cũng không được đón nhận, và họ đành chấm dứt tái bản tiểu thuyết này.

Tào Đình đã viết thư cho tôi, nói rằng, vô cùng cảm ơn những việc Trang Hạ làm để cho tác phẩm của cô tới VN, và điều đó làm cô thấy cô là một người may mắn.

Bìa bản tiếng Việt của cuốn sách.
Bìa bản tiếng Việt của cuốn sách.

- Kịch bản sân khấu có những điểm gì khác so với nguyên tác?

- Kịch chỉ giữ lại cốt truyện tối thiểu, còn toàn bộ các nhân vật, các tình tiết, các đường dây dẫn dắt tâm lý đã được sửa chữa rất nhiều. Trong truyện chỉ có hai nhân vật chính và một nhân vật phụ, thêm một vai đã không bao giờ xuất hiện, như Lưu Quang Đông. Các nhân vật chính chỉ có hơn chục lời thoại. Còn trong kịch, các vai diễn được bù đắp rất nhiều chất liệu sống, những lời đối thoại hoặc độc thoại của Hạ Âu hoặc Hà Niệm Bân đều được tôi chăm chút, các chi tiết vô lý của cốt truyện được xử lý và hóa giải, loại bỏ gần hết các tình tiết ngẫu nhiên phi lý hoặc tình cờ một cách áp đặt của truyện. Không nhân vật nào tự dưng từ trên trời rơi xuống, tự dưng yêu nhau, tự dưng đi hiến thân… Tôi và anh Hoàng Vũ đã trao đổi rất nhiều khi quyết định thay đổi các tình tiết vốn đã quen thuộc với bạn đọc VN.

Trong những thay đổi đó, tôi cố gắng để cho nhân vật “đời” nhất, nhân văn nhất, đa diện nhất. Ác như Lưu Quang Đông sẽ còn ác hơn trong kịch, ác tới nỗi làm người ta thấy… mủi lòng thương hại. Còn lương thiện như Hà Niệm Bân sẽ còn lương thiện hơn trong kịch, tới nỗi khiến người ta cảm thấy… căm thù. Diễn vai đời mà, hy vọng kịch xong người xem và người diễn vẫn còn muốn nán lại sân khấu, thế là đủ.

- Khó khăn với chị khi chuyển thể tác phẩm văn học này thành kịch bản sân khấu là gì?

- Tôi chưa bao giờ được đi xem kịch, tôi không biết sân khấu kịch trông ra sao, diễn viên cách khán giả bao xa. Khi nhận được lời mời viết kịch bản của anh Hoàng Vũ, tôi nghĩ hoặc anh ấy là người rất thông minh nhạy bén, biết tôi xử lý các chất liệu tác phẩm rất tốt; hoặc anh ấy là người rất ngốc, bắt một người như tôi viết xong vở kịch trong hai tuần là một sự hoang tưởng. Để làm được điều đó, anh Hoàng Vũ và nhà đầu tư đã dành cho tôi khá nhiều ưu ái, và cả thời gian thuyết phục, sau đó là thời gian chỉ dạy tôi về các yếu tố cần có của một vở kịch chuyển thể. Thật mừng là kịch bản 70 trang của tôi làm mọi người hài lòng và hầu như không bỏ đoạn nào.

Khó khăn thứ hai lớn hơn, sau khi khắc phục khoảng 20 điểm phi lý trong tiểu thuyết gốc, tôi phát hiện ra tôi chỉ viết được bi kịch, những đoạn thoại hài mà tôi viết đều là những đoạn hài ra nước mắt, cười mà chua xót. Vì thế, sẽ làm vở kịch nặng nề. Anh Hoàng Vũ đã rất vất vả khi phải tiếp tục viết tiếp trên kịch bản, để Xin lỗi, em chỉ là con đĩ sinh động hơn, trở thành một vở kịch hài hoà giữa bi và hài, có giới trẻ thời thượng, nhạc rock, có hiệu ứng hình ảnh cực kỳ độc đáo, những đoạn hài sảng khoái đúng chất “anh Hai Sài Gòn”. Có thể nói nếu không có anh Hoàng Vũ, tôi không bao giờ viết được kịch bản đầu tay này.

Sau vở kịch, có thể V.Art sẽ làm tiếp tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết đầu tay của Trang Hạ Chuyện kể dưới ngọn đèn đường do Công ty sách Đinh Tị và NXB Phụ Nữ xuất bản tháng 1/2010. Lần đầu tiên, số phận những cô dâu VN tại Đài Loan được lên phim.

Lưu Hà thực hiện